Đề luyện thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn nâng cao số 15
Đề luyện thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn nâng cao số 15, chủ đề khan hiếm nước, công bằng và quản trị cộng đồng, gồm phần Đọc hiểu 4,0 điểm và phần Viết 6,0 điểm. Ngữ liệu được biên soạn mới trên cơ sở tham khảo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO); có đáp án và hướng dẫn chấm tham khảo.
Câu 1.
Đọc văn bản sau:
GIẾNG LÀNG MÙA CẠN
Tháng ba, chiếc gàu chạm đáy giếng
không còn nghe tiếng nước reo.
Bà tôi nghiêng tai xuống khoảng tối
như nghe một người bạn cũ thở dài.
Ngày trước, giếng soi trọn vầng trăng,
trẻ con chuyền nhau từng gáo mát;
người đi đồng rửa lớp bùn trên chân,
người qua đường cũng được mời dừng lại.
Mùa cạn năm nay, bên thành giếng
xuất hiện một tấm bảng viết tay:
“Mỗi nhà lấy đủ phần trong ngày,
ưu tiên người già và trẻ nhỏ.”
Có người mang thùng lớn đến sớm,
bà chỉ vào hàng người phía sau:
“Nước không biết nhà ai nhiều ruộng,
nhưng người biết nhường nhau thì phải biết.”
Chiều, đội thanh niên vá đường ống rò,
phủ rơm cho luống rau giữ ẩm,
hứng nước mưa từ mái nhà văn hóa,
ghi từng con số lên cuốn sổ chung.
Đêm ấy, mưa chưa về,
nhưng giếng làng dường như sâu hơn
bởi trong khoảng tối dưới lòng đất
đã có tiếng người cùng giữ một nguồn sống.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên hữu hạn; quản lý nước hiệu quả, minh bạch và phù hợp với điều kiện địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh lương thực và sinh kế.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn, tham khảo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc về khan hiếm nước)
Dựa vào hình thức tổ chức dòng, hãy gọi tên thể thơ của văn bản và nêu một dấu hiệu nhận biết.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 2.
Đọc văn bản sau:
GIẾNG LÀNG MÙA CẠN
Tháng ba, chiếc gàu chạm đáy giếng
không còn nghe tiếng nước reo.
Bà tôi nghiêng tai xuống khoảng tối
như nghe một người bạn cũ thở dài.
Ngày trước, giếng soi trọn vầng trăng,
trẻ con chuyền nhau từng gáo mát;
người đi đồng rửa lớp bùn trên chân,
người qua đường cũng được mời dừng lại.
Mùa cạn năm nay, bên thành giếng
xuất hiện một tấm bảng viết tay:
“Mỗi nhà lấy đủ phần trong ngày,
ưu tiên người già và trẻ nhỏ.”
Có người mang thùng lớn đến sớm,
bà chỉ vào hàng người phía sau:
“Nước không biết nhà ai nhiều ruộng,
nhưng người biết nhường nhau thì phải biết.”
Chiều, đội thanh niên vá đường ống rò,
phủ rơm cho luống rau giữ ẩm,
hứng nước mưa từ mái nhà văn hóa,
ghi từng con số lên cuốn sổ chung.
Đêm ấy, mưa chưa về,
nhưng giếng làng dường như sâu hơn
bởi trong khoảng tối dưới lòng đất
đã có tiếng người cùng giữ một nguồn sống.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên hữu hạn; quản lý nước hiệu quả, minh bạch và phù hợp với điều kiện địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh lương thực và sinh kế.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn, tham khảo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc về khan hiếm nước)
Tấm bảng viết tay bên thành giếng quy định hai nguyên tắc phân chia nước nào?
Trả lời: ..............................................................................
Câu 3.
Đọc văn bản sau:
GIẾNG LÀNG MÙA CẠN
Tháng ba, chiếc gàu chạm đáy giếng
không còn nghe tiếng nước reo.
Bà tôi nghiêng tai xuống khoảng tối
như nghe một người bạn cũ thở dài.
Ngày trước, giếng soi trọn vầng trăng,
trẻ con chuyền nhau từng gáo mát;
người đi đồng rửa lớp bùn trên chân,
người qua đường cũng được mời dừng lại.
Mùa cạn năm nay, bên thành giếng
xuất hiện một tấm bảng viết tay:
“Mỗi nhà lấy đủ phần trong ngày,
ưu tiên người già và trẻ nhỏ.”
Có người mang thùng lớn đến sớm,
bà chỉ vào hàng người phía sau:
“Nước không biết nhà ai nhiều ruộng,
nhưng người biết nhường nhau thì phải biết.”
Chiều, đội thanh niên vá đường ống rò,
phủ rơm cho luống rau giữ ẩm,
hứng nước mưa từ mái nhà văn hóa,
ghi từng con số lên cuốn sổ chung.
Đêm ấy, mưa chưa về,
nhưng giếng làng dường như sâu hơn
bởi trong khoảng tối dưới lòng đất
đã có tiếng người cùng giữ một nguồn sống.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên hữu hạn; quản lý nước hiệu quả, minh bạch và phù hợp với điều kiện địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh lương thực và sinh kế.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn, tham khảo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc về khan hiếm nước)
Phân tích hàm ý trong lời bà: “Nước không biết nhà ai nhiều ruộng, / nhưng người biết nhường nhau thì phải biết.”
Trả lời: ..............................................................................
Câu 4.
Đọc văn bản sau:
GIẾNG LÀNG MÙA CẠN
Tháng ba, chiếc gàu chạm đáy giếng
không còn nghe tiếng nước reo.
Bà tôi nghiêng tai xuống khoảng tối
như nghe một người bạn cũ thở dài.
Ngày trước, giếng soi trọn vầng trăng,
trẻ con chuyền nhau từng gáo mát;
người đi đồng rửa lớp bùn trên chân,
người qua đường cũng được mời dừng lại.
Mùa cạn năm nay, bên thành giếng
xuất hiện một tấm bảng viết tay:
“Mỗi nhà lấy đủ phần trong ngày,
ưu tiên người già và trẻ nhỏ.”
Có người mang thùng lớn đến sớm,
bà chỉ vào hàng người phía sau:
“Nước không biết nhà ai nhiều ruộng,
nhưng người biết nhường nhau thì phải biết.”
Chiều, đội thanh niên vá đường ống rò,
phủ rơm cho luống rau giữ ẩm,
hứng nước mưa từ mái nhà văn hóa,
ghi từng con số lên cuốn sổ chung.
Đêm ấy, mưa chưa về,
nhưng giếng làng dường như sâu hơn
bởi trong khoảng tối dưới lòng đất
đã có tiếng người cùng giữ một nguồn sống.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên hữu hạn; quản lý nước hiệu quả, minh bạch và phù hợp với điều kiện địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh lương thực và sinh kế.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn, tham khảo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc về khan hiếm nước)
Làm rõ sự chuyển nghĩa của hình ảnh “giếng làng dường như sâu hơn” ở khổ cuối.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 5.
Đọc văn bản sau:
GIẾNG LÀNG MÙA CẠN
Tháng ba, chiếc gàu chạm đáy giếng
không còn nghe tiếng nước reo.
Bà tôi nghiêng tai xuống khoảng tối
như nghe một người bạn cũ thở dài.
Ngày trước, giếng soi trọn vầng trăng,
trẻ con chuyền nhau từng gáo mát;
người đi đồng rửa lớp bùn trên chân,
người qua đường cũng được mời dừng lại.
Mùa cạn năm nay, bên thành giếng
xuất hiện một tấm bảng viết tay:
“Mỗi nhà lấy đủ phần trong ngày,
ưu tiên người già và trẻ nhỏ.”
Có người mang thùng lớn đến sớm,
bà chỉ vào hàng người phía sau:
“Nước không biết nhà ai nhiều ruộng,
nhưng người biết nhường nhau thì phải biết.”
Chiều, đội thanh niên vá đường ống rò,
phủ rơm cho luống rau giữ ẩm,
hứng nước mưa từ mái nhà văn hóa,
ghi từng con số lên cuốn sổ chung.
Đêm ấy, mưa chưa về,
nhưng giếng làng dường như sâu hơn
bởi trong khoảng tối dưới lòng đất
đã có tiếng người cùng giữ một nguồn sống.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên hữu hạn; quản lý nước hiệu quả, minh bạch và phù hợp với điều kiện địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh lương thực và sinh kế.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn, tham khảo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc về khan hiếm nước)
Từ hành động ghi số liệu vào “cuốn sổ chung”, anh/chị suy nghĩ thế nào về vai trò của minh bạch khi cộng đồng chia sẻ nguồn lực khan hiếm? Trình bày khoảng 5-7 dòng.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 6.
Bằng một đoạn văn khoảng 200 chữ, hãy phân tích hình tượng giếng làng trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 7.
Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ về vấn đề: khi tài nguyên thiết yếu trở nên khan hiếm, công bằng cần được hiểu và thực hiện như thế nào?
Trả lời: ..............................................................................