Đề luyện thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn số 12
Đề luyện thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn số 12, chủ đề lập kế hoạch và khả năng thích nghi, gồm phần Đọc hiểu 4,0 điểm và phần Viết 6,0 điểm, có đáp án và hướng dẫn chấm tham khảo.
Câu 1.
Đọc đoạn trích:
BẢN ĐỒ NHỮNG LẦN LẠC ĐƯỜNG
Năm mười bảy tuổi, tôi tự đạp xe đến một thị trấn cách nhà hơn ba mươi cây số để dự cuộc thi vẽ. Điện thoại hết pin giữa đường, còn tấm bản đồ giấy mua ở hiệu sách đã cũ, nhiều con đường mới chưa được in.
Tôi rẽ nhầm vào một xóm nhỏ. Thay vì quay lại ngay, tôi cố đi tiếp vì ngại hỏi. Con đường càng lúc càng hẹp, cuối cùng dừng trước một cánh đồng ngập nước. Một bác nông dân đang buộc lại bó rau hỏi tôi tìm đâu. Nghe xong, bác lấy bút chì vẽ thêm lên bản đồ một cây cầu mới và khoanh tròn quán nước nơi tôi cần rẽ.
Tôi đến cuộc thi muộn mười phút. Bức tranh hôm ấy không đoạt giải. Nhưng trên đường về, tôi không xóa nét bút chì của bác. Tôi còn đánh dấu chỗ đã rẽ nhầm và viết bên cạnh: “Đường cụt, nhưng gặp người tốt.”
Nhiều năm sau, tấm bản đồ vẫn nằm trong ngăn bàn. Nó có thêm những đường gạch, mũi tên và ghi chú từ nhiều chuyến đi. Tôi nhận ra bản đồ hữu ích nhất không phải bản đồ chưa từng sai, mà là bản đồ biết được sửa sau mỗi lần lạc.
Cuộc đời cũng vậy. Có những đường vòng không đưa ta đến đích nhanh hơn, nhưng dạy ta hỏi đường, nhận giúp đỡ và thay đổi kế hoạch mà không xấu hổ.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn)
Vì sao nhân vật “tôi” phải sử dụng tấm bản đồ giấy cũ?
Trả lời: ..............................................................................
Câu 2.
Đọc đoạn trích:
BẢN ĐỒ NHỮNG LẦN LẠC ĐƯỜNG
Năm mười bảy tuổi, tôi tự đạp xe đến một thị trấn cách nhà hơn ba mươi cây số để dự cuộc thi vẽ. Điện thoại hết pin giữa đường, còn tấm bản đồ giấy mua ở hiệu sách đã cũ, nhiều con đường mới chưa được in.
Tôi rẽ nhầm vào một xóm nhỏ. Thay vì quay lại ngay, tôi cố đi tiếp vì ngại hỏi. Con đường càng lúc càng hẹp, cuối cùng dừng trước một cánh đồng ngập nước. Một bác nông dân đang buộc lại bó rau hỏi tôi tìm đâu. Nghe xong, bác lấy bút chì vẽ thêm lên bản đồ một cây cầu mới và khoanh tròn quán nước nơi tôi cần rẽ.
Tôi đến cuộc thi muộn mười phút. Bức tranh hôm ấy không đoạt giải. Nhưng trên đường về, tôi không xóa nét bút chì của bác. Tôi còn đánh dấu chỗ đã rẽ nhầm và viết bên cạnh: “Đường cụt, nhưng gặp người tốt.”
Nhiều năm sau, tấm bản đồ vẫn nằm trong ngăn bàn. Nó có thêm những đường gạch, mũi tên và ghi chú từ nhiều chuyến đi. Tôi nhận ra bản đồ hữu ích nhất không phải bản đồ chưa từng sai, mà là bản đồ biết được sửa sau mỗi lần lạc.
Cuộc đời cũng vậy. Có những đường vòng không đưa ta đến đích nhanh hơn, nhưng dạy ta hỏi đường, nhận giúp đỡ và thay đổi kế hoạch mà không xấu hổ.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn)
Bác nông dân đã bổ sung những gì vào tấm bản đồ?
Trả lời: ..............................................................................
Câu 3.
Đọc đoạn trích:
BẢN ĐỒ NHỮNG LẦN LẠC ĐƯỜNG
Năm mười bảy tuổi, tôi tự đạp xe đến một thị trấn cách nhà hơn ba mươi cây số để dự cuộc thi vẽ. Điện thoại hết pin giữa đường, còn tấm bản đồ giấy mua ở hiệu sách đã cũ, nhiều con đường mới chưa được in.
Tôi rẽ nhầm vào một xóm nhỏ. Thay vì quay lại ngay, tôi cố đi tiếp vì ngại hỏi. Con đường càng lúc càng hẹp, cuối cùng dừng trước một cánh đồng ngập nước. Một bác nông dân đang buộc lại bó rau hỏi tôi tìm đâu. Nghe xong, bác lấy bút chì vẽ thêm lên bản đồ một cây cầu mới và khoanh tròn quán nước nơi tôi cần rẽ.
Tôi đến cuộc thi muộn mười phút. Bức tranh hôm ấy không đoạt giải. Nhưng trên đường về, tôi không xóa nét bút chì của bác. Tôi còn đánh dấu chỗ đã rẽ nhầm và viết bên cạnh: “Đường cụt, nhưng gặp người tốt.”
Nhiều năm sau, tấm bản đồ vẫn nằm trong ngăn bàn. Nó có thêm những đường gạch, mũi tên và ghi chú từ nhiều chuyến đi. Tôi nhận ra bản đồ hữu ích nhất không phải bản đồ chưa từng sai, mà là bản đồ biết được sửa sau mỗi lần lạc.
Cuộc đời cũng vậy. Có những đường vòng không đưa ta đến đích nhanh hơn, nhưng dạy ta hỏi đường, nhận giúp đỡ và thay đổi kế hoạch mà không xấu hổ.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn)
Phân tích ý nghĩa của dòng ghi chú “Đường cụt, nhưng gặp người tốt”.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 4.
Đọc đoạn trích:
BẢN ĐỒ NHỮNG LẦN LẠC ĐƯỜNG
Năm mười bảy tuổi, tôi tự đạp xe đến một thị trấn cách nhà hơn ba mươi cây số để dự cuộc thi vẽ. Điện thoại hết pin giữa đường, còn tấm bản đồ giấy mua ở hiệu sách đã cũ, nhiều con đường mới chưa được in.
Tôi rẽ nhầm vào một xóm nhỏ. Thay vì quay lại ngay, tôi cố đi tiếp vì ngại hỏi. Con đường càng lúc càng hẹp, cuối cùng dừng trước một cánh đồng ngập nước. Một bác nông dân đang buộc lại bó rau hỏi tôi tìm đâu. Nghe xong, bác lấy bút chì vẽ thêm lên bản đồ một cây cầu mới và khoanh tròn quán nước nơi tôi cần rẽ.
Tôi đến cuộc thi muộn mười phút. Bức tranh hôm ấy không đoạt giải. Nhưng trên đường về, tôi không xóa nét bút chì của bác. Tôi còn đánh dấu chỗ đã rẽ nhầm và viết bên cạnh: “Đường cụt, nhưng gặp người tốt.”
Nhiều năm sau, tấm bản đồ vẫn nằm trong ngăn bàn. Nó có thêm những đường gạch, mũi tên và ghi chú từ nhiều chuyến đi. Tôi nhận ra bản đồ hữu ích nhất không phải bản đồ chưa từng sai, mà là bản đồ biết được sửa sau mỗi lần lạc.
Cuộc đời cũng vậy. Có những đường vòng không đưa ta đến đích nhanh hơn, nhưng dạy ta hỏi đường, nhận giúp đỡ và thay đổi kế hoạch mà không xấu hổ.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn)
Nêu ý nghĩa biểu tượng của tấm bản đồ trong đoạn trích.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 5.
Đọc đoạn trích:
BẢN ĐỒ NHỮNG LẦN LẠC ĐƯỜNG
Năm mười bảy tuổi, tôi tự đạp xe đến một thị trấn cách nhà hơn ba mươi cây số để dự cuộc thi vẽ. Điện thoại hết pin giữa đường, còn tấm bản đồ giấy mua ở hiệu sách đã cũ, nhiều con đường mới chưa được in.
Tôi rẽ nhầm vào một xóm nhỏ. Thay vì quay lại ngay, tôi cố đi tiếp vì ngại hỏi. Con đường càng lúc càng hẹp, cuối cùng dừng trước một cánh đồng ngập nước. Một bác nông dân đang buộc lại bó rau hỏi tôi tìm đâu. Nghe xong, bác lấy bút chì vẽ thêm lên bản đồ một cây cầu mới và khoanh tròn quán nước nơi tôi cần rẽ.
Tôi đến cuộc thi muộn mười phút. Bức tranh hôm ấy không đoạt giải. Nhưng trên đường về, tôi không xóa nét bút chì của bác. Tôi còn đánh dấu chỗ đã rẽ nhầm và viết bên cạnh: “Đường cụt, nhưng gặp người tốt.”
Nhiều năm sau, tấm bản đồ vẫn nằm trong ngăn bàn. Nó có thêm những đường gạch, mũi tên và ghi chú từ nhiều chuyến đi. Tôi nhận ra bản đồ hữu ích nhất không phải bản đồ chưa từng sai, mà là bản đồ biết được sửa sau mỗi lần lạc.
Cuộc đời cũng vậy. Có những đường vòng không đưa ta đến đích nhanh hơn, nhưng dạy ta hỏi đường, nhận giúp đỡ và thay đổi kế hoạch mà không xấu hổ.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn)
Từ câu văn “thay đổi kế hoạch mà không xấu hổ”, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về khả năng điều chỉnh mục tiêu của người trẻ (khoảng 5-7 dòng).
Trả lời: ..............................................................................
Câu 6.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình ảnh tấm bản đồ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Trả lời: ..............................................................................
Câu 7.
Người trẻ cần có kế hoạch cho tương lai, đồng thời phải đủ linh hoạt để điều chỉnh khi thực tế thay đổi. Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trên.
Trả lời: ..............................................................................